Hiển thị các bài đăng có nhãn Những Bài ý nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Những Bài ý nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2012

XEM NGƯỜI KHÁC LÀ TÔN TRỌNG

         Một tờ báo nọ đã đăng câu chuyện và bài thơ ngụ ngôn như sau: Có một hạt giống nhỏ nằm dưới lòng đất, chẳng bao lâu nó sẽ nứt lộc đâm chồi. Nó trầm ngâm suy nghĩ: "Ta sẽ biến mình thành loại hoa nào trong các loài hoa đẹp bây giờ?" Rồi người ta nghe nó nói một mình: "Ta chẳng thèm làm hoa Hồng, nó đầy gai! Ta chẳng thích làm hoa Huệ, nó chẳng có màu sắc gì cả! Chắc chắn ta cũng không thành loài hoa Tím, nó nhỏ bé quá và lại mọc sát mặt đất!"
          Đoạn chót của bài thơ nói về hạt giống ấy như sau:
Thế là nó chê hết loài hoa nầy,
….. đến loài hoa khác,
Cho tới khi hạt giống kiêu kỳ đó thức dậy,
….. vào một sớm mùa hè,
Nó thấy mình là ….. một cọng cỏ!
          Dường như ai cũng muốn cho mình là hay, là tốt hơn mọi người khác! Thói thường, người ta thích chê bai, chỉ trích cái xấu hoặc nhược điểm của kẻ khác, còn mình thì bao giờ cũng tốt đẹp. Ngay cả trong lời tự thú: "Tôi xấu xa lắm!" cũng thường phảng phất cái ý tưởng rằng: "chính mình là người tốt." Chúa Jêsus muốn chúng ta đối diện với con người của chính mình. Trước khi nhìn vào lỗi lầm của người khác, phải thẳng thắn với lỗi lầm của ta. Kết quả là khi tự nhận thức được lỗi lầm, chúng ta sẽ không còn dám lên án lỗi lầm của ai khác!
          Sứ đồ Phao-lô, trong thơ gửi cho Hội thánh Phi-líp, ông khuyên không nên khinh thường người khác, nhưng phải tôn trọng lẫn nhau, "Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình." (Phi-líp 2:3-8) Ông muốn chúng ta hãy học tính khiêm nhường như Chúa Giê-su. “Chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người…. Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có.” (Phi líp 2:7).

"Sao ngươi dòm thấy cái rác trong mắt anh em ngươi, 
mà chẳng thấy cây đà trong mắt mình?" (Ma thi ơ 7:3).

(Sưu tầm)
 

Thứ Tư, 15 tháng 8, 2012

ALEXANDER ĐẠI ĐẾ


          Alexander và vua cha Phi-líp đang xem người của hoàng gia kiểm tra bầy ngựa mới. Alexander chỉ: “Ồ, Ba hãy xem con ngựa đen kia, tên nó là Bucephalus, con ngựa có đốm trắng giữa trán, trông nó hùng dũng như một con bò tót vậy!” Vua cha lắc đầu: “Nó không tốt đâu, trông nó hung dữ quá, không ai có thể cưỡi nó được!” Alexander nói: “Thưa Cha, con nghĩ là con có thể cưỡi! Xin cho con thử xem.”      Vua Phi-líp nhìn con và cười: “Con nghĩ con có thể trị được nó sao? Không phải dễ đâu cậu bé. Nhưng thôi, con cứ thử đi!” Alexander phi ngựa về phía bầy ngựa, khi gần đến, chàng giảm tốc độ lại, chuyển qua nắm lấy sợi dây cương của con ngựa bất kham và nhẹ nhàng quay nó hướng về phía mặt trời, rồi nói nhỏ vào tai nó. Chỉ trong chốc lát, con ngựa đứng yên. Alexander nhảy lên lưng ngựa và cưỡi nó đi trong sự khâm phục của mọi người. Vua Phi-líp nói: “Nó đã thuộc về con. Con đã dùng bí quyết gì để chinh phục nó vậy?” - “Con để ý thấy mặt trời đang phủ bóng nó và những hình thù đen đốm trên mặt đất làm nó sợ, vì thế con quay nó hướng về phía mặt trời, và nó không còn sợ nữa.” Đó là cách Alexander chế ngự được Bucephalus – con ngựa mà ông đã cưỡi suốt trong những trận chinh phục thế giới của mình.
          Có thể chúng ta đang bối rối hoặc khủng hoảng vì những bóng râm trong cuộc đời: Bệnh tật, Thất bại, Thảm họa, Sa ngã, Mất mát! Nó làm chúng ta mất bình tĩnh, hoảng loạn. Hễ ngày nào chúng ta còn chăm chú vào những điểm tối ấy, ngày đó chúng ta vẫn còn bất an và sầu thảm. Hãy hướng về mặt trời Chân lý, về Chúa Cha, ánh sáng và sự cứu rỗi của chúng ta. Sự vinh hiển và quyền năng của Ngài sẽ xua tan những nỗi sợ hãi trong tâm hồn, Ngài sẽ khiến chúng ta can đảm hơn để đương đầu với thực tại. Không một bóng tối nào có thể lẩn khuất quanh ta nếu ta mạnh mẽ bước đi trong ánh sáng của Ngài.
“Đức Giê-hô-va là ánh sáng và là sự cứu rỗi tôi: Tôi sẽ sợ ai?" (Thi thiên 27:1a).
(Sưu Tầm)

Thứ Hai, 25 tháng 6, 2012

HẠNH PHÚC Ở ĐÂU?

      Có truyền thuyết về hai giọt nước mắt đang cùng trôi trên một dòng sông. Chúng trôi gần nhau, rồi giọt nước mắt thứ nhất hỏi giọt kia rằng, “Bạn là giọt nước mắt của ai? Vì sao người ấy đau khổ?” Giọt nước mắt kia trả lời: “Tôi là giọt nước mắt của một cô gái, nàng đã yêu chàng Nara Dranga và không được sống với chàng nên nàng đã khóc. Vậy còn bạn, bạn là nước mắt của ai?” Giọt nước mắt thứ nhất liền nói, “Thật thế sao? Lạ lùng vậy? Tôi chính là giọt nước mắt của cô gái đang sống với chàng Nara Dranga đây!”
Chúng ta thường đi tìm hạnh phúc của người khác, trong khi người khác lại tìm hạnh phúc của chúng ta. Có cái ta tưởng là hạnh phúc chỉ vì ta chưa có được, nhưng với những người đang nắm giữ nó thì đó lại là một nỗi bất hạnh. Người nghèo mong mình được giàu, kẻ giàu đôi khi mệt mỏi quá với đồng tiền, chỉ muốn hưởng được một chút thảnh thơi của người nghèo. Bạn đang khóc vì những thứ bạn chưa có, nhưng có thể bạn sẽ khóc nhiều hơn khi bạn đã có những thứ ấy. Sứ đồ Phao-lô chia sẻ kinh nghiệm, “tôi đã tập hễ gặp cảnh ngộ nào, cũng thỏa lòng ở vậy. Tôi biết chịu nghèo hèn, cũng biết được dư dật. Trong mọi sự và mọi nơi tôi đã tập cả, dầu no hay đói, dầu dư hay thiếu cũng được.” (Phi-líp 4:11b, 12)
Chúng ta thường không vui với những gì mình đang có, đau khổ với những gì mình chưa có, và mơ tưởng những gì mình không thể nào có. Bởi thế ta tự làm khổ chính mình, tự chôn vùi hiện tại trong khi tương lai thì chưa được thành hình! Hãy quay lại với những gì bạn đang có, đang nắm giữ, hãy biết ơn Chúa về những gì Ngài đã ban cho. Phước hạnh sẽ đến nhiều hơn nữa với những ai đón nhận sự dẫn dắt của Chúa mà không một chút thở than, bất mãn hay phàn nàn, là những kẻ biết hiến mình cho kế hoạch tối ưu của Đức Chúa Trời. Hạnh phúc đang ở với bạn trong hiện tại, hãy sống với niềm tin và sự thỏa lòng, Chúa sẽ ban cho bạn điều tốt nhất.

"Hãy lấy điều mình có làm đủ rồi." (Hê bơ rơ 13:5b).

 Source: Sưu tầm Dương Quang Thoại.


Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

SƯ TỬ TƠ BỊ ĐÓI

          Nếu mưa thuận gió hòa, những cánh rừng không bị con người hủy phá, môi trường sinh thái được bảo tồn….. thì cả một đời của con sư tử chẳng bao giờ biết đói là gì! Nó được mệnh danh là "Chúa tể sơn lâm" bởi nhiều lý do như: sức mạnh, sự dũng mãnh, tinh khôn, khả năng săn mồi, hàm răng chắc khỏe và móng vuốt lợi hại v.v… Trong khu rừng sư tử sinh sống, biết bao nhiêu là sinh vật có thể trở thành bữa ăn cho chúng. Quy luật của sinh tồn: mạnh được yếu thua, giống nầy làm thức ăn cho giống khác! Ấy thế mà Kinh Thánh nói đến một tình huống: "Sư tử tơ bị thiếu kém và đói." (Thi 34:10). Điểm đáng chú ý, ở đây không phải là một sư tử già, sư tử bệnh, bèn là sư tử tơ, nghĩa là sư tử ở độ tuổi sung sức, khỏe mạnh và nhanh nhẹn nhất! Ở độ tuổi săn mồi dễ như trở bàn tay! Sư tử tơ bị thiếu kém và đói, một việc thật khó xảy ra ở núi rừng!
          Thế nhưng, dẫu cho việc ấy có xảy ra chăng nữa, dẫu cho những kẻ mạnh sức cũng phải "thiếu kém và đói," thì người tìm cầu Chúa cũng vẫn chẳng thiếu của tốt gì. Từng chữ mà tác giả Thi Thiên dùng, như muốn nhấn mạnh sự giàu có trong ơn phước của Ngài dành cho chúng ta. “Chẳng thiếu thốn gì.” - "Chẳng thiếu của tốt gì.” (Thi 34:10). Trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất, những ai tin cậy Chúa không chỉ nhận được ơn phước của Ngài một cách chiếu lệ, nhưng là dư dật với những điều tốt nhất ngoài cả mong đợi. Vua Đa-vít viết Thi Thiên bằng chính kinh nghiệm bi thảm của ông khi phải trốn chạy khỏi kinh thành. Một người đã từng có tất cả – vinh quang của chiến thắng, tài năng, sự ngưỡng mộ, tình yêu và của cải. Rồi hoàn cảnh trớ trêu, ông bỏ tất cả lại sau lưng, lang bạt dặm trường như một kẻ đào tẩu, thậm chí phải giả làm kẻ điên loạn để cứu mạng sống của mình. (I Sa-mu-ên 21:13). Chính trong từng trải ấy, ông đã khám phá ra rằng chỉ có Chúa mới là chỗ dựa vững chắc nhất. Đó là nguồn an ủi duy nhất của ông ngày xưa và cũng là lời hứa cho chúng ta ngày nay. Hãy tìm cầu Chúa, bạn sẽ chẳng thiếu một điều tốt đẹp nào!

"Sư tử tơ bị thiếu kém và đó; nhưng người nào tìm cầu Đức Giê hô va sẽ chẳng thiếu của tốt gì." (Thi thiên 34:10).

Nguồn: Dương Quang Thoại.


Thứ Hai, 28 tháng 5, 2012

LÀ CƠ ĐỐC NHÂN

Vài năm về trước, một mục sư từ một tiểu bang nhỏ nhận được lời mời đến tiếp quản một Hội thánh tại Houston, bang Texas. Vài tuần sau khi tới nơi, chuyện xảy đến khi ông có lần đi xe buýt từ nhà mình đến khu vực trung tâm thành phố.

Khi vừa ngồi vào chỗ, ông phát hiện ra người lái xe khi trả lại tiền lẻ đã vô tình đưa thừa một đồng xu một phần tư đô-la. Suy tính xem phải làm gì, ông nghĩ, “Tốt nhất là mình trả lại đồng xu này. Giữ nó lại là sai.” Sau đó ông nghĩ, “Ôi, quên đi, chỉ là một phần tư đô-la thôi mà. Ai mà lo về số tiền ít như thế này? Hơn nữa, công ty xe buýt này bán vé giá quá đắt, họ chẳng thiệt đi chút nào đâu. Cứ coi như đó là món quả nhỏ từ Chúa, rồi im đi.”

Khi đến bến mình cần, ông dừng lại một thoáng ở cừa, trao đồng xu một phần tư đô-la vào tay người lái xe và nói, “Này, anh đưa tôi thừa tiền trả lại.”

Người lái xe hỏi lại với nụ cười, “Có phải ông là mục sư mới chuyển đến thành phố?”

“Vâng”, ông đáp.

“À, tôi gần đây nghĩ nhiều về việc tìm một nơi để đi thờ phượng Chúa. Tôi chỉ muốn xem ông sẽ làm gì nếu tôi trả thừa cho ông tiền lẻ. Hẹn gặp ông ở nhà thờ Chủ nhật này nhé.”

Khi nhà truyền giảng ra khỏi xe buýt, ông phải bám vội lấy cột đèn gần nhất để tựa vào đấy, và nói, “Ôi Chúa ơi, thiếu chút nữa con đã bán Ngài lấy một phần tư đô-la.”

Cuộc sống chúng ta có thể là phiên bản Kinh thánh duy nhất mà người khác có thể được đọc. Đây là một thí dụ đáng sợ về việc người ta luôn soi xét chúng ta là cơ-đốc nhân như thế nào, và sẽ tìm mọi cách để thử thách chúng ta! Hãy luôn luôn tỉnh thức và nhớ rằng – mình mang danh Đức Giê-xu cơ-đốc khi tự gọi mình là “cơ-đốc nhân”.

Hãy để ý tư tưởng mình, nó sẽ thành lời nói.
Hãy để ý lời nói mình, nó sẽ thành hành động.
Hãy để ý hành động mình, nó sẽ thành thói quen.
Hãy để ý thói quen mình, nó sẽ thành tính cách.
Hãy để ý tính cách mình, nó sẽ quyết định số phận của bạn.

(Nguồn: Tinlanh.Ru sưu tầm và dịch)

                                                                                

VỊ THANH TRA KHÔNG CÓ TRÍ KHÔN

Một vị thanh tra đang hỏi các học sinh về thuyết vô thần và dạy các em không tin có Thượng Đế. Tay cầm viên phấn, vị thanh tra hỏi:

- Các em có thấy viên phấn nầy không? - "Dạ thấy", các em đáp.
- Các em có thấy tấm bảng đen trên tường không? - "Dạ thấy".
- Các em có thấy người giáo viên đang đứng kia không? - "Dạ thấy"

Đây là câu hỏi chót, rất quan trọng, có ảnh hưởng đến tương lai của các em. Hãy nghe cho rõ, suy nghĩ thật kỹ, rồi trả lời. "Các em có thấy Thượng Đế không?"
- "Dạ không thấy", các em đáp.

Vị thanh tra rất hài lòng về câu trả lời của học sinh, rồi kết luận: Vũ trụ nầy không có Đức Chúa Trời.

Bấy giờ, vị giáo viên bèn bước lên, xin phép vị thanh tra được lập lại các câu hỏi lúc nảy.

- Các em có thấy viên phấn nầy không? - "Dạ thấy", các em đáp.
- Các em có thấy tấm bảng đen trên tường không? - "Dạ thấy".
- Các em có thấy vị thanh tra đang đứng kia không? - "Dạ thấy"

Đây là câu hỏi chót, rất quan trọng, có ảnh hưởng đến tương lai của các em. Hãy nghe cho rõ, suy nghĩ thật kỹ, rồi trả lời.
- Các em có thấy trí khôn của vị thanh tra không?
- Dạ không thấy, các em đáp.

Người giáo viên kết luận: Như vậy là vị thanh tra nầy không có trí khôn; vì không có trí khôn nên không "thấy" và không tin có Đức Chúa Trời.

(Sưu tầm)

TIN VÀ KHÔNG TIN

Một người đàn ông đi vào tiệm hớt tóc quen thuộc để cắt tóc và cạo râu như thường lệ. Ông ta bắt đầu buôn chuyện với người thợ phục vụ cho mình. Họ nói đủ thứ chuyện trên đời, rồi vô tình họ đụng đến đề tài Chúa trời. Người thợ cắt tóc nói:

- Tôi chẳng tin trên đời này có Thượng Đế như ông đã nói.
- Sao ông lại nói thế?. Người khách hỏi.
- Chuyện đó cũng dễ thôi, chỉ cần ông bước ra đường là thấy ngay trên đời này chẳng có Chúa trời gì ráo. Nếu thực sự Ngài có tồn tại thì tại sao trên đời này lại có nhiều người bệnh tật như vậy? Sao còn rất nhiều trẻ em bị bỏ rơi. Nếu có Chúa, trên đời này sẽ chẳng có đau khổ. Tôi không thể nghĩ nỗi là Chúa nào lại chấp nhận nhìn những cảnh đó xảy ra.

Người khách lặng im suy nghĩ nhưng rồi ông không nói gì vì không muốn câu chuyện trở thành cuộc khẩu chiến. Người thợ cắt tóc làm xong công việc của mình và vị khách hàng bước ra khỏi tiệm. Vừa ra ngoài ông liền nhìn thấy một người đàn ông trên đường tóc tai râu ria bù xù (như thể đã lâu lắm rồi ông ta không cắt tóc cạo râu vậy, trông rất bê bối).

Người khách liền quay lại cửa tiệm và nói với người thợ cắt tóc:
- Ông biết gì không? Trên đời này làm gì có thợ cắt tóc.
- Sao lại không? Tôi đang ở đây và tôi là thợ cắt tóc.
- Không hề. Vị khách trả lời: Nếu có thợ cắt tóc thì sao vẫn còn những người tóc tai, râu ria bù xù như người đàn ông đang đi trên đường kia?
- À, thợ cắt tóc thì có chứ, chỉ tại những người kia không chịu đến tiệm cắt tóc mà thôi.
- Chính xác!. Vị khách như chỉ đợi câu nói đó. Đó là điều mà tôi muốn nói. Thượng Đế có tồn tại, chỉ là người ta không tin và không tìm đến Ngài mà thôi. Đó là lý do vì sao trên đời này lại có nhiều khổ đau đến như vậy.

(Sưu tầm)

NHỮNG CON VỊT NUÔI

Có một đàn vịt trời đang bay hướng về phía nam để trú đông. Chúng bay tạo thành một chữ "V" rất đẹp trên bầu trời, bất cứ ai ở dưới đất nhìn lên cũng đều phải thích thú.

Một ngày nọ, Wally, một trong những chú vịt trời trong đàn, bỗng nhìn thấy cái gì đó rất hấp dẫn dưới mặt đất... Một cái sân nuôi gà vịt quanh nhà kho, ở đó có một đàn vịt nhà đang được nuôi trong nông trại. Bọn chúng chạy lạch bạch quanh sân, kêu quàng quạc rất vui vẻ nhộn nhịp và mỗi ngày đều được ăn bắp mà người ta thảy ra sân cho chúng.

Wally có vẻ thích thú trước những gì chú chứng kiến. "Chắc hẳn ăn bắp đó sẽ rất tuyệt," chú tự nghĩ, "Còn ở đây, mình cứ phải bay suốt chặng đường dài mệt mỏi này. Mình thích được chạy loanh quanh thảnh thơi trong sân như vậy một lúc." Sau khi suy nghĩ một hồi, Wally quyết định rời khỏi đàn, lượn một vòng về bên trái và lao xuống về hướng cái sân nuôi gà vịt nọ.

Chú đáp xuống giữa những chú vịt nhà trong sân, và bắt đầu chạy vớ vẩn trong sân, kêu quàng quạc như bọn họ. Rồi chú cũng bắt đầu ăn bắp. Trong lúc đó, đàn vịt trời vẫn tiếp tục hành trình bay về phía Nam, nhưng Wally chẳng thèm để ý tới. "Mình sẽ trở lại đàn khi họ từ phía Nam bay ngang qua đây trong vài tháng tới," chú tự bảo.

Nhiều tháng trôi qua và nghĩ rằng đã hết mùa Đông, Wally nhìn lên trời và chờ đợi đàn của mình bay trở về phương Bắc. Khi chúng xuất hiện, Wally thấy đàn của mình bay thật đẹp trên bầu trời. Lúc này, Wally cũng đã thật sự chán ngán cái sân nuôi vịt ở đây rồi.
Nó thật là dơ bẩn! Và ở đây, bất cứ chỗ nào cũng chỉ toàn nghe tiếng quàng quạc mà thôi. "Bây giờ là lúc mình phải rời khỏi chỗ này," Wally thầm nghĩ. Thế là chú vỗ cánh và cố gắng bay lên. Nhưng chú đã tăng thêm mấy ký vì ăn nhiều bắp quá, và chú lại chẳng bao giờ tập thể dục cho đôi cánh của mình nữa.

Cuối cùng Wally cũng bay lên khỏi mặt đất, nhưng chú bay thật chậm chạp và tông ầm vô hàng rào của sân nuôi gà vịt. Chú rớt bịch xuống đất! Wally tự nhủ trong lòng, "Ồ không sao, mình chỉ cần đợi họ bay về phía Nam trú đông lần tới, mình sẽ bay lên cùng mọi người và sẽ lại là một chú vịt trời thôi."

Nhưng rồi đàn vịt trời lại bay qua một lần nữa, Wally lại cố gắng vỗ cánh thật mạnh để bay lên khỏi cái sân nuôi vịt kia. Vấn đề đơn giản là chú không còn đủ sức để bay lên nữa. Cứ mỗi mùa Đông và mùa Xuân, Wally nhìn thấy đàn của mình bay ngang qua trên trời, và chúng cũng vẫy gọi chú. Nhưng mọi nổ lực của Wally đều thất bại.

Cuối cùng, Wally không còn chú ý đến đàn vịt trời bay qua trên đầu mình nữa. Dần dần, chú hầu như không còn nhận ra chúng. Và kết quả cuối cùng là chú đã trở nên một con vịt nuôi.

Thỉnh thoảng chúng ta mệt mỏi để là những chú vịt trời.... những môn đồ của Chúa Jesus. Thật không dễ dàng để luôn vâng lời Chúa và kỷ luật bản thân mình trên hành trình dài theo Chúa. Khi chúng ta cảm thấy mệt mỏi như vậy cũng chính là lúc Satan xúi giục chúng ta "rời khỏi đàn" và tham gia vào bầy vịt nuôi... chính là thế gian...

Nhưng hãy nhìn những gì đã xảy ra cho Wally. Chú vịt nghĩ chỉ là "tìm hiểu cho biết" một chút thôi, và sẽ rời khỏi nó khi mình muốn. Nhưng chú đã không làm được điều đó. Tôi lỗi cũng giống như vậy. Tội lỗi là cái bẫy, và nó có cách để làm chúng ta ngày càng đi xuống.

Cuối cùng, chúng ta chẳng còn nhận ra mình thật sự là ai nữa... Con trai và con gái của Đấng Tối Cao; chúng ta bắt đầu sống như những con vịt nuôi, trái ngược với cương vị là con cái Chúa.

Mỗi tuần một câu Kinh Thánh
"Hãy thức canh và cầu nguyện, kẻo các ngươi sa vào chước cám dỗ; tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối." (Ma thi ơ 26:41). 

(sưu tầm)
Link http://www.tinlanh.ru/doi-song/cau-chuyen-duc-tin/759-nhung-con-vit-nuoi

MẤT MỘT CHIẾC GIÀY!

Xe lửa bắt đầu chuyển bánh, Gandhi nhảy vội lên tàu. Một chiếc giày của ông rơi xuống. Gandhi không thể nào nhảy xuống để nhặt nó trong khi tàu chạy càng lúc càng nhanh. Nếu trong trường hợp như vậy, bạn sẽ làm gì?
Trước sự sững sờ của mọi người, Gandhi đã tháo luôn chiếc giày còn lại và ném về phía chiếc giày kia. Những hành khách trên tàu lấy làm lạ về hành động kỳ quặc của ông. Gandhi mỉm cười và giải thích: “Nếu có một người nghèo nào lượm được chiếc thứ nhất, họ có thể tìm thấy chiếc thứ hai và sẽ mang được đôi giày của tôi!”
Chúng ta ít nghĩ đến người khác, mà thường nghĩ về bản thân mình nhiều hơn. Khi gặp sự mất mát, điều đầu tiên chúng ta nghĩ đến là những thiệt thòi và bất hạnh của bản thân. Chúng ta đã phí quá nhiều thì giờ cho sự tiếc nuối, than thở và chán nản, thậm chí trở nên cáu gắt và bực bội vì những rủi ro xảy ra. Khi gặp bất trắc, tư tưởng ta chỉ xoay quanh chính mình và những điều mình phải chịu đựng, mà không thể có những sáng kiến lạc quan để chuyển sự tổn thất trở thành một điều hữu ích nào đó. Quanh quẩn với những thiệt hơn của riêng mình, chúng ta không để những ý tưởng phúc lợi cho tha nhân có cơ hội nẩy mầm.
Gandhi đã có một hành động thật cao quí, bởi trong sự mất mát của mình như thế, ông có thể lập tức nghĩ đến người khác. Hành động của Gandhi chứng tỏ việc “nghĩ đến người khác” đã trở thành một phần trong tư tưởng và nguyên tắc sống của ông. Nếu trong những lúc bình an và thành công mà chúng ta còn không quan tâm lo lắng cho những kẻ bất hạnh hơn mình, thì liệu khi gặp khó khăn, tổn thất, ta có thể làm được điều đó hay không? Khi bạn giảm thiểu thì giờ và tâm trí nghĩ đến mình, bạn sẽ thấy có rất nhiều những nhu cầu của người khác đang cần được bạn quan tâm.

(Sưu tầm)

LỖ HỔNG Ở HÀNG RÀO

Có 1 cậu bé rất nóng tính, rất hay cãi nhau và quát mắng bạn. Bố cậu bé đưa cho nó 1 túi đinh và bảo rằng, mỗi lần nổi cáu, nó hãy đóng 1 cái đinh vào hàng rào.

Ngày đầu tiên, cậu bé đã đóng 37 cái đinh vào hàng rào. Vài tuần sau, cậu bé đã bắt đầu biết kiềm chế. Số đinh được đóng vào hàng rào mỗi ngày mỗi giảm dần.

Cậu bé nhận ra rằng, kiềm chế không để mình nổi cáu dễ hơn nhiều so với việc đóng đinh vào hàng rào¡¦

Cuối cùng, đến 1 ngày, cậu bé không còn nổi nóng nữa. Cậu bé nói với bố về chuyện đó và người bố bảo rằng mỗi ngày cậu bé không nổi nóng lần nào, hãy rút 1 cái đinh ở hàng rào ra.

Ngày qua ngày và cậu bé cuối cùng đã rút hết đinh.

Ông bố liền dẫn cậu bé ra chỗ cái hàng rào.

Ông nói:
- Con đã làm rất tốt, con trai ạ! Nhưng hãy nhìn những lỗ hổng ở hàng rào, nơi mà con đóng đinh vào rồi rút ra. Cái hàng rào không còn như cũ nữa. Khi con nổi cáu quát mắng người khác, điều đó cũng để lại dấu vết như thế này. Con có thể cầm dao đâm vào 1 người rồi rút nó ra. Dù con có nói câu xin lỗi bao nhiêu lần, vết thương cũng sẽ còn ở đó. Và những vết thương do lời nói không khác gì những vết thương trên cơ thể. Bạn bè thật sự là những viên ngọc quý giá. Họ làm con vui và ủng hộ con đi tới thành công. Họ chia sẻ với con mọi chuyện và luôn muốn con mở lòng ra với họ. Vậy thì tại sao không làm cuộc sống vui vẻ dễ chịu hơn?

(Sưu tầm)

MÓN QUÀ GIẤC NGỦ

"Tôi nằm xuống mà ngủ; tôi tỉnh thức, vì Đức-Giê-hô-va nâng đỡ tôi.
Tôi sẽ không nao muôn người, vây tôi khắp bốn bên." (Thi thiên 3:5-6)
"Hỡi Đức-Giê-hô-va, tôi sẽ nằm và ngủ bình an;
Vì chỉ một mình Ngài làm cho tôi được ở yên ổn." (Thi thiên 4:8)
"Chúa cũng ban giấc ngủ cho kẻ Ngài yêu mến." (Thi thiên 127:2)

          Một trong những sự sự bầy tỏ đến từ Đức Chúa Trời tuyệt vời trong Kinh-Thánh đó là chuyện giấc ngủ chính là món quà của Chúa cho những con người yêu dấu của Ngài. Đa-vít từng phải chịu áp lực kinh khủng, ông bị vây bọc bởi kẻ thù từ khắp các hướng, chính mạng sống của ông cũng bị đe doạ. Ông nói về những đám đông "muôn người vây bọc bốn bên" quanh ông. Nhưng, giữa mọi sự đó, ông biết được phước hạnh của một giấc ngủ yên lành, bình an.

          Ông nêu ra hai lý do: "Vì Đức-Giê-hô-va nâng đỡ tôi", và lại một lần nữa: "Vì chỉ một mình Ngài làm cho tôi được ở yên ổn." An ninh của ông chỉ dựa vào Chúa - chứ không dựa vào hoàn cảnh, không dựa vào của cải vật chất, và cũng không dựa vào những lời hứa hẹn của những người không chắc chắn, mà là dựa vào những lời hứa vĩnh cửu, bất biến của Lời Chúa.

          Mỗi một buổi tối ông lại phó mình cho Chúa. Ông nằm và ngủ với lòng tin tưởng vào Đức Chúa Trời. Ông biết rằng linh hồn ông an toàn trong sự che chở của Chúa. Ông có thể nằm ngủ và tỉnh dậy không hề hoang mang lo sợ, không hề bị dầy vò bởi cớ sự mất ngủ.

          Ngày hôm nay nhiều người không có được lòng tin tưởng phước hạnh đó. Khi màn đêm đến, họ bị dầy vò, bối rối, lo sợ. Những lo lắng và bất an của ban ngày đến cả vào ban đêm cũng không rời bỏ họ. Nếu bạn là một người như vậy, thì hãy học tập Đa-vít. Hãy thừa nhận Đức Chúa Trời là nguồn gốc tuyệt đối của an ninh và bình an của mình. Sau đó hãy dùng đức tin đơn giản mà tiếp nhận món quà của tình yêu thương Ngài - giấc ngủ.

Lời đáp của đức tin: Chúa ơi, con tin rằng Ngài yêu thương con, và Ngài cũng dành cho con món quà phước hạnh là giấc ngủ.

(Sưu tầm)



Thứ Hai, 21 tháng 5, 2012

KHƯỚC TỪ SỰ ÂN XÁ

           Năm 1897, Martin Dalton 28 tuổi, đã giết chết một nhà buôn ở New York, ông bị kết án chung thân. Đến năm 1930, vụ án được xét lại. Tòa án quyết định trả tự do cho Dalton vì cho rằng 33 năm tù đã đủ trả giá cho tội lỗi của ông. Bao nhiêu năm qua Dalton mong chờ lệnh ân xá, nhưng đã quá mòn mỏi rồi, ông nhận quyết định ân xá khi đã ở tuổi 61. Lẽ ra vui mừng khi cầm quyết định nầy, thì ngược lại, Dalton run sợ. Xã hội bên ngoài đã có biết bao thay đổi trong 33 năm qua! Thuở ấy chỉ có ngựa và xe ngựa, bây giờ xe hơi đã chạy vùn vụt trên đường. Ra khỏi tù, ông sẽ đi đâu, ở đâu, làm gì? Người thân không có, tiền bạc cũng không! Suy nghĩ trong nhiều ngày, cuối cùng Dalton thỉnh nguyện: “Xin cho tôi được ở lại trong tù!”
         Bất đắc dĩ, tòa án và trại giam chấp nhận yêu cầu của ông. Ngày 23-3-1960, Martin Dalton đã qua đời tại nhà lao Rhode Island State, sống thọ 91 tuổi. Ông đã có 63 năm sống trong tù, 33 năm do thi hành bản án và 30 năm kia là sự tự nguyện.
         Dalton đã thích nghi với ngục tù. Nhiều người sống quá lâu trong tội lỗi đến nỗi dường như quá thích hợp với một đời sống như thế. Họ dị ứng với môi trường trong sạch, xa lạ với sự thánh thiện. Ma quỷ làm cho chúng ta quen dần với bầu không khí ô nhiễm bởi tội lỗi, đến nỗi ngột ngạt khi hít thở không khí trong lành của điều thiện. Rồi đến một ngày, người ta cảm thấy không cần sự cứu rỗi, không cần sự tha thứ và tự do. Chúa mời dân sự Ngài đi vào con đường ngay thẳng, bình an và yên nghỉ, nhưng Ngài thường nhận được lời khước từ!!! Hỡi những tâm hồn mệt mỏi bởi gánh nặng của tội đời, những ai đang bị giam cầm bởi quyền lực tăm tối, xin nghe lời mời gọi của Chúa, nhẹ nhàng và êm dịu: Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ!” (Ma thi ơ 11:28).
      Đức Giê-hô-va phán như vầy: "Hãy đứng trên các đường cái và nhìn xem; tra xét những đường lối cũ, xem thử đường tốt ở đâu: hãy đi đường ấy, thì các ngươi sẽ được sự an nghỉ cho linh hồn mình. Nhưng chúng nó đáp rằng: Chúng tôi không khứng đi đường ấy! (Giê-rê-mi 6:16).

HỌ KHÔNG BIẾT TÔI LÀ CƠ ĐỐC NHÂN!

       
         Vào khoảng cuối năm 1997, tại một bang thuộc Ấn Độ, những người cực đoan của một giáo phái đã tấn công những người tin Chúa trong bang đó. Phong trào chia rẽ này càng lúc càng lan nhanh. Vì sự an toàn cho các tín đồ của mình, vị mục sư của một hội thánh địa phương đã quyết định “tất cả mọi người tạm lánh qua các vùng khác cho tới khi mọi việc yên ổn trở lại.”
  
       Vài tháng sau, khi vụ việc đã được giải quyết tốt đẹp, mọi người trở về chỗ cũ của mình, và họ hết sức ngạc nhiên khi thấy một thanh niên trong hội thánh không hề ra đi. Anh ta đã ở lại trong suốt thời gian xảy ra các vụ lộn xộn và sát hại đó. Thắc mắc, cộng thêm một chút ngưỡng mộ, vị mục sư hỏi: “Anh không sợ nguy hiểm đến tính mạng của mình sao?” Những gì anh ta trả lời đã làm mọi người càng thêm sững sờ, “Không!” – Mục sư hỏi: “Tại sao?” – Anh trả lời: “Tôi đã sống ở đây hơn 10 năm rồi, nhưng không ai biết tôi là người tin Chúa hết, nên không sao cả!!”
Nhiều người, vì sự an toàn của bản thân hoặc vì xấu hổ, đã luôn che giấu niềm tin của mình. Phao-lô, một học giả, một nhà trí thức, có địa vị xã hội, một người đầy tài năng, một công dân Rô-ma thời đó, đã khẳng định: “Tôi không hổ thẹn về Tin lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin…” (Rô-ma 1:16). Có điều gì khiến bạn xấu hổ khi nhận mình là tín đồ Cơ Đốc chăng? Có bao giờ bạn đã tránh né khi người khác hỏi bạn về niềm tin Cơ Đốc chưa? Đừng bao giờ là một Cơ Đốc nhân giấu kín! Khi lòng bạn thật sự cảm nhận được “quyền phép của Đức Chúa Trời...” để cứu bạn, lúc ấy sự can đảm và niềm vui mừng vô hạn sẽ khiến bạn xưng ra Danh của Ngài.
“Bởi đó, ai xưng Ta ra trước mặt thiên hạ, thì Ta cũng sẽ xưng họ trước mặt Cha Ta ở trên trời; còn ai chối Ta trước mặt thiên hạ, thì Ta cũng sẽ chối họ trước mặt Cha Ta ở trên trời.” (Ma thi ơ 10:32-33).




Thứ Năm, 17 tháng 5, 2012

HÃY CẢM TẠ CHÚA

        Vào thời Đệ Nhị Thế chiến, rất nhiều nhà thờ đã mở cửa suốt ngày đêm để mọi người có thể đến và cầu nguyện cho người thân của họ đang ở chiến trường. Vị mục sư tại ngôi nhà thờ nhỏ đã để ý một đứa bé, ngày nào nó cũng đến cầu nguyện khoảng mười phút.
Sau vài tuần lễ, một hôm đứa bé lại đến và quỳ cầu nguyện lâu hơn thường lệ. Vị mục sư nghĩ chắc có chuyện không lành. Để bày tỏ sự quan tâm của mình, ông hỏi tại sao hôm nay nó lại dành nhiều thì giờ để trò chuyện với Chúa hơn những ngày trước đây. Đứa bé trả lời: “Mỗi ngày con đều đến đây vài phút để cầu xin Chúa dẫn dắt cha con trở về nhà bình an. Sáng nay cha con đã trở về, nên con vội đến đây để cám ơn Chúa vì Ngài đã nhậm lời cầu xin của con, trong niềm vui nầy, con muốn nói với Chúa nhiều hơn mọi ngày.”
Sự cảm tạ phải là một phần trong mối thông công với Đức Chúa Trời. Cơ Đốc nhân sẽ trưởng thành khi có nhiều kinh nghiệm trong sự cảm tạ Chúa. Đôi lúc ta khẩn thiết cầu xin về một nan đề, và khi đã được đáp ứng, ta còn quên cảm tạ Ngài thay, huống chi lúc ta triền miên trong khốn khó và bất hạnh thì làm sao ta có thể nói lên lời cảm tạ? Sự cầu nguyện của nhiều người dường như chỉ toàn là những lời xin, mà rất ít sự ngợi khen và bày tỏ lòng biết ơn. Nhiều người xem Chúa như một vị thần chỉ để giải quyết những khó khăn khẩn cấp. Và khi mọi việc dường như có vẻ êm xuôi thì lại lãng quên Ngài. Chúa không giàu thêm khi chúng ta biết ơn hoặc nghèo đi khi chúng ta vô ơn, nhưng lòng biết ơn Ngài trước hết là lợi ích cho đức hạnh của chúng ta, là nền tảng cho sự khiêm nhường, là sự khích lệ cho lòng tin cậy.
Trong I Tê-sa-lô-ni-ca 5:18a, Phao-lô khuyên: “Phàm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa.” Dù đó là điều tốt hay xấu, may mắn hay rủi ro, thành công hay thất bại, đều nằm trong kế hoạch tốt nhất của Ngài dành cho ta.
"Hãy ngợi khen Đức Giê hô va, vì Ngài là thiện; sự nhơn từ Ngài còn đến đời đời." (Thi thiên 107:1). 


Nguồn: Dương Quang Thoại. 

Hoà Bình Trên Đất Chăng?

Đọc: Lu ca 2:8-14.
"Ta để sự bình an lại cho các ngươi, Ta ban sự bình an của Ta cho các ngươi; sự bình an Ta cho các ngươi không giống như thế gian cho." (Giăng 14:27)
              Tôi không muốn tranh chấp với bầu trời đầy thiên binh, nhưng tôi phải công nhận rằng mình thường hay thắc mắc về lời hứa ban bình an, mà đông đảo thiên thần đã đem đến cho bọn chăn trên những cánh đồng bên ngoài Bết-lê-hem. Suốt hơn 2000 năm qua, hòa bình cao nhất trên hành tinh chúng ta, là một món hàng quí hiếm. Chiến tranh vẫn tiếp tục tàn phá những cuộc đời ngây thơ, bạo lực gia đình đang là thảm họa gia tăng, tỉ số ly hôn nhảy vọt, Hội Thánh chia rẽ, và sự bình an trong tấm lòng ương ngạnh, bồn chồn của chúng ta dường như là giấc mơ khó nắm bắt.
                Vậy thì hòa bình đã hứa đang ở đâu? Thật ra, nếu suy nghĩ kỹ, chúng ta có thể thấy Chúa Giê-xu đã mang lại mọi điều cần thiết cho hòa bình trên thế giới chúng ta. Ngài dạy những nguyên tắc hòa bình, kêu gọi con người yêu thương người lân cận như yêu bản thân mình. Và khi rời khỏi hành tinh này, Ngài hứa, "Ta để sự bình an lại cho các ngươi, Ta ban sự bình an của Ta cho các ngươi" (Giăng 14:27). Ngài dặn chúng ta: "nếu ai vả má bên hữu ngươi, hãy đưa má bên kia cho họ luôn;" "ai muốn bắt ngươi đi một dặm đường, hãy đi hai dặm với họ." "tha thứ sai phạm," "khước từ tham lam," "độ lượng đối với nhược điểm của người khác," "sống để phục vụ và yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương chúng ta."
                Có vẻ như phần lớn sự bình an là tùy thuộc ở chúng ta. Phao-lô xác nhận điều này trong Rô-ma 12:18, "Nếu có thể được, thì hãy hết sức sống hòa thuận với mọi người." Giáng sinh này, chúng ta hãy trao tặng món quà hòa thuận cho thế giới mình đang sống, khi suy nghĩ về Vua Hòa Bình.
Joe Stowell
(Sưu tầm) 

Thứ Tư, 16 tháng 5, 2012

GIEO GÌ GẶT NẤY

Người nông dân nọ thuê một mảnh đất để cày cấy đã nhiều năm. Ông là một người rất siêng năng trong việc đồng áng, vì thế không mấy khó khăn trong việc tiếp tục gia hạn hợp đồng thuê đất. Nhưng một ngày kia, người quản lý đến nói với ông: “Con trai của ông chủ sẽ cưới vợ, và anh ta quyết định sẽ sống tại nông trại nầy. Cho nên khi hợp đồng thuê hết hạn cuối năm nay, ông phải đi tìm một miếng đất khác.” Người nông dân choáng váng, ông nài nỉ để mình tiếp tục được thuê nông trại đó, nhưng bị chối từ.
Về nhà, người nông dân tự nghĩ: “Thật là uổng công ta bấy lâu!” Càng nghĩ, ông càng giận đến độ muốn trả thù. Ông đi tìm những giống cỏ hoang khó diệt nhất, rồi trong một đêm tối trời trước ngày ông phải rời nông trại, ông đi gieo chúng khắp cả cánh đồng mà bấy lâu ông đã bỏ công sức để giữ cho nó tốt tươi. Trở về nhà, ông hài lòng với những gì mình đã làm. Sáng hôm sau, trong khi người nông dân đang thu dọn hành lý của mình để ra đi thì viên quản lý lại đến. Ông ta nói: “Con trai của ông chủ đã đổi ý, anh ta sẽ sống ở thành phố, vì thế ông có thể tiếp tục thuê nông trại nầy.” Người nông dân không tin vào tai mình! Ông đứng đó im lặng, rồi nhớ đến những gì mình đã làm đêm qua. Trước mắt sẽ là những chuỗi ngày dài vất vả để nhổ những chùm cỏ dại đó. Ông tự trách bản thân: “Mình đúng là một thằng khờ!”
Khi những mong muốn không được thỏa mãn, lòng người có thể sanh ra thù hận, dẫn đến những hành vi độc ác không lường được. Những lúc bạn trút cơn giận của mình bằng một hành động cay nghiệt lên ai đó, có bao giờ bạn nghĩ đến cảnh tượng chính mình sẽ phải hứng chịu sự cay nghiệt như vậy chăng? Cuộc sống quá ngắn ngủi để ganh ghét và trả thù nhau, hãy sợ rằng ta sẽ phải gặt những gì mình đã gieo.
"Các ngươi lường cho người ta mực nào, thì họ cũng lường lại cho mực ấy." (Ma thi ơ 7:2b).
(Sưu tầm)

CÂU CHUYỆN CON CHIM

          Sáng Chúa Nhật Phục Sinh, Mục Sư George Thomas ở thành phố nhỏ bé New England, mang đến nhà thờ một cái lồng chim rỉ sét, cong quẹo và để bên cạnh bục giảng. Một số người cau mày lại. 
          Mục   Sư Thomas bắt đầu nói:
          Hôm qua, tôi đang đi qua phố, tôi thấy một cậu bé đi về hướng tôi và đang lắc lư cái lồng chim nầy. Trong lồng có ba con chim nhỏ, run rẩy vì lạnh và sợ. Tôi chặn cậu bé lại và hỏi, "Con có gì trong đó?"
          Cậu bé đáp lại, "Chỉ vài con chim già". Tôi hỏi, "Con sẽ làm gì với những con chim đó?". Cậu bé trả lời, "Đem chúng về nhà và làm trò với chúng. Tôi sẽ chọc ghẹo chúng, nhổ lông chúng để chúng đánh nhau. Tôi sẽ thật sự hưởng một thời gian vui thích".
"Nhưng sớm hay muộn, con sẽ chán những con chim nầy. Con sẽ làm gì?"
Cậu bé nói, "Tôi có những con mèo, chúng nó thích chim, tôi sẽ đem những con chim nầy cho chúng".
Vị Mục Sư im lặng một chốc. "Hỡi con, con muốn bao nhiêu cho những con chim nầy?"
"Tại sao? Ông không thích chúng đâu. Chúng chỉ là những con chim già ngoài đồng. Chúng không hót và cũng không đẹp đẽ gì".
         Mục Sư hỏi lần nữa, "Bao nhiêu?"
         Cậu bé đánh giá vị Mục Sư chừng như là điên dại và nói, "$10?"
         Mục Sư móc túi lấy ra tờ giấy bạc $10. Ông đặt nó vào tay cậu bé. Trong giây lát, cậu bé biến mất.
Mục Sư cầm lấy cái lồng và nhẹ nhàng mang đến cuối lối đi là nơi có cây và những mảnh cỏ. Để cái lồng chim xuống, ông mở cửa lồng, và vỗ nhẹ vào những thanh sắt để thuyết phục chim bay ra để được tự do.
         Đấy, cái lồng chim trống không bên cạnh bục giảng là thế đấy. Và Mục Sư bắt đầu kể câu chuyện....
Một ngày nọ, Sa-tan và Chúa Jesus có cuộc nói chuyện. Sa-tan vừa từ Vườn Ê-đen đến, và đang hả hê khoác lác.
         "Thưa Ngài, tôi vừa được cả thế gian đầy những người ở đó. Tôi dùng mồi đặt bẫy, tôi biết họ không thể cưỡng lại được. Tôi được tất cả".
         Chúa Jesus hỏi, "Ngươi sẽ làm gì với họ?"
Sa-tan trả lời, "Ồ, tôi sẽ có những trò vui, tôi sẽ dạy họ làm thế nào để kết hôn và ly dị, làm thế nào để thù ghét nhau, lợi dụng nhau, say sưa nghiện ngập và rủa sả. Tôi sẽ dạy họ sáng chế ra súng, bom và giết lẫn nhau. Tôi thật sự sẽ có nhiều trò vui".
         Chúa Jesus hỏi, "Ngươi sẽ làm gì với họ khi ngươi đã làm những việc đó với họ?"
         "Tôi sẽ giết họ". Sa-tan nhìn trừng trừng kiêu ngạo.
         Chúa Jesus hỏi, "Ngươi muốn bao nhiêu cho họ?"
         "Ồ, Ngài không thích những người nầy đâu. Họ không tốt lành gì. Tại sao, Ngài sẽ nhận họ, nhưng họ sẽ ghét Ngài. Họ sẽ nhổ trên Ngài, rủa sả Ngài và giết Ngài. Ngài không thích những người nầy đâu!!"
         Ngài hỏi lần nữa, "Bao nhiêu?"
         Sa-tan nhìn Chúa Jesus và chế nhạo, "Tất cả nước mắt và huyết của Ngài".
         Chúa Jesus nói, "Được rồi!" Và Ngài trả xong giá chuộc.
         Vị Mục Sư cầm lấy cái lồng, mở cửa và rời bục giảng.

Sưu tầm: Bản dịch của Đặc san Đức Tin.



Thứ Hai, 19 tháng 3, 2012

SỞ HỮU MỘT KHO TÀNG

          Ông Yates là sở hữu chủ một mảnh đất lớn ở bang Texas. Trong một cơn khủng hoảng kinh tế, ông dùng mảnh đất ấy để nuôi những đàn cừu. Nhưng các vấn đề tài chính đã dẫn ông đến bờ vực của sự phá sản. Bất ngờ, một công ty dầu mỏ tin rằng có dầu lửa trên mảnh đất của ông, nên họ đề nghị với ông một hợp đồng khai thác. Như cơn mưa ngay trong những ngày khô hạn, Yates chấp thuận ngay. Chẳng lâu sau, các công nhân đã tìm thấy một mỏ dầu lớn nhất lục địa Bắc Mỹ vào thời đó, ngay trên đất của Ông Yates, ở một độ sâu không sâu lắm. Chỉ qua một đêm, kể từ lúc những tia dầu đầu tiên phun lên khỏi mặt đất, ông Yates đã trở thành tỷ phú. Yates suýt nữa phải phá sản dù đang ngồi trên một kho tàng, chỉ vì ông không hề biết điều đó!
          Có bao giờ bạn nghĩ rằng mình cũng là một “ông Yates” trên phương diện thuộc linh vì không hề biết đến những tài sản mà bạn đang có trong Đấng Christ không? Khi Phao-lô viết thơ cho người Ê-phê-sô, ông phơi bày một kho tàng kín giấu qua lời giảng về “sự giàu có không thể dò được của Đấng Christ.” Mục đích của ông là muốn các Cơ Đốc nhân biết mình thật sự giàu có như thế nào. Phao-lô không chỉ giảng mà còn cầu nguyện cho các tín đồ nhận biết và sử dụng gia tài thuộc linh của mình để họ có được tâm thần mạnh mẽ, đâm rễ vững nền trong sự yêu thương, có năng lực trong lời cầu nguyện và được đầy dẫy chính Đức Chúa Trời. Xin hãy đọc Ê-phê-sô 3:14-21 và nhận biết một cách chắc chắn nguồn tài nguyên thuộc linh vô hạn mà bạn đang có hiện tại.
          Chúng ta có thể chết khát trên một dòng nước ngọt, có thể chết đói trong một kho lương thực, có thể nghèo túng và phá sản ngay trên một kho tàng quí giá, chỉ vì ta không nhận thức được những gì mình đã được giao cho nắm giữ. Đức Chúa Trời của chúng ta vô cùng giàu có, và sự giàu có ấy đã được giao cho chúng ta quản lý và sử dụng.

Ân điển Chúa "đã ban cho tôi… để rao truyền cho dân ngoại sự giàu có không dò được của Đấng christ." (Ê phê sô 3:8).
             
                               Trở lại Trang Những Bài ý nghĩa

Thứ Hai, 12 tháng 3, 2012

LỘ RA BÊN NGOÀI

          Trong một bài giảng của Hudson Taylor, (nhà truyền giáo đầu tiên đến Trung Quốc) ông đã lấy một ly đựng đầy nước và đặt nó trên bàn trước mặt ông. Khi đang nói, ông rung nhẹ chiếc bàn đủ để làm cho nước trong ly văng ra ngoài. Rồi ông rút bài học: “Đối diện với những sự việc xảy ra hằng ngày, bạn sẽ có nhiều phản ứng. Nhưng khi bạn sắp có hành động nào, hãy nhớ rằng, bên trong bạn có những thứ gì, thì nó sẽ văng ra ngoài thứ đó.”
          Khi chiếc bàn rung lên, thì nước trong ly văng ra, đó là lẽ tất nhiên, nhưng chiếc ly chứa loại nước gì, tất sẽ văng ra loại nước ấy.
          Với ý tưởng sâu sắc nầy, chúng ta không khỏi thẹn thùng khi nhớ lại đôi lần trước những cơn nóng nảy ta đã thốt ra lời thô tục; khi mất bình tĩnh, ta đã có những thái độ điên cuồng; khi bị oan ức, ta đã không ngớt lời chửi rủa… Nếu lòng người chứa đầy sự nhân từ, tinh thần khoan dung, cùng với sự kiên nhẫn và nhịn nhục, thì trước những xung đột và áp lực, tất cả những thứ ấy sẽ tràn ra.
          Ê-phê-sô 4:17-32, cho thấy sự khác biệt của một người trước khi được cứu và những gì người làm sau khi có Chúa. Khi sống dưới sự chế ngự của Đức Thánh Linh, chúng ta sẽ bày tỏ bản tánh của mình trước những tác động trong cuộc sống. Nếu chiếc bàn không rung lên, không có cái gì văng ra từ trong chiếc ly cả! Nếu cuộc sống bình thường trôi qua, không có một va chạm nào, thật khó để biết được đức hạnh của một người. Có thể chúng ta day dứt và đau khổ vì sao những ngày bình thường ta đã cố sống một cách rất tốt đẹp, nhưng khi gặp chuyện thì bao nhiêu cái xấu đều tuôn tràn ra, mặc dầu ta đã hết sức che đậy. Vấn đề ở chỗ: trong lòng chúng ta chứa đựng những gì! Nếu trái tim của bạn đầy ắp tình yêu của Đấng Christ, khi chiến đấu với những thử thách không mong đợi, chúng ta có thể đáp trả bằng tấm lòng bao dung và thái độ nhân từ.

"Hết thảy những điều xấu ấy ra từ trong lòng thì làm cho dơ dáy người." (Mác 7:23).

Nguồn: Sưu tầm.